Tận ThếWiki
Tìm
Lời đồn tận thế qua các thời kỳ

Khi lời tiên đoán thất bại: nghiên cứu nổi tiếng của Festinger năm 1956

When Prophecy Fails (1956) theo dõi một nhóm chờ lụt tận thế ngày 21/12/1954; khi dự đoán sai, nhiều người tin mạnh hơn. Từ đó ra lý thuyết bất hoà nhận thức.

Khi lời tiên đoán thất bại: nghiên cứu nổi tiếng của Festinger năm 1956

When Prophecy Fails (Khi lời tiên đoán thất bại, 1956) là nghiên cứu của ba nhà tâm lý học Leon Festinger, Henry Riecken và Stanley Schachter, theo dõi từ bên trong một nhóm nhỏ ở Mỹ tin rằng một trận đại hồng thuỷ sẽ huỷ diệt thế giới vào ngày 21/12/1954. Khi ngày đó qua đi bình yên, nhiều thành viên không bỏ niềm tin mà còn đi truyền bá mạnh hơn. Từ quan sát này, Festinger phát triển lý thuyết bất hoà nhận thức, một trong những ý tưởng có ảnh hưởng nhất của tâm lý học xã hội thế kỷ 20.

Nhóm chờ đĩa bay ở Chicago năm 1954

Trung tâm của câu chuyện là một phụ nữ ở vùng Chicago, trong sách được đặt bí danh "Marian Keech"; về sau người ta biết tên thật của bà là Dorothy Martin. Bà nói mình nhận được thông điệp bằng cách "viết tự động" từ những thực thể ở một hành tinh tên Clarion. Theo các thông điệp này, một trận lụt khổng lồ sẽ nhấn chìm phần lớn Bắc Mỹ trước bình minh ngày 21/12/1954, và những người tin sẽ được một chiếc đĩa bay đón đi trước đó.

Quanh bà hình thành một nhóm nhỏ. Người nổi bật nhất là một bác sĩ có học vị, trong sách mang bí danh "Thomas Armstrong" (tên thật Charles Laughead), cùng vợ. Nhóm không chỉ tin mà còn hành động: một số người bỏ việc, cho đi tài sản, chia tay người thân không cùng niềm tin. Theo các tác giả, chính mức cam kết ấy là điều khiến nhóm trở thành "phòng thí nghiệm tự nhiên" lý tưởng.

Cách nghiên cứu được tiến hành

Festinger lúc đó làm việc ở Đại học Minnesota. Khi đọc được tin báo về lời tiên đoán, ông cùng các đồng nghiệp quyết định quan sát nhóm từ bên trong. Họ và một số trợ lý tham gia nhóm như những người tin mới, không tiết lộ mình là nhà nghiên cứu, ghi chép lén những gì diễn ra, kể cả đêm chờ đợi quyết định.

Phương pháp này ngày nay bị xem là có vấn đề về đạo đức nghiên cứu, vì người được quan sát không biết và không đồng ý. Nó cũng có vấn đề khoa học: sự xuất hiện của vài "thành viên mới" giữa lúc nhạy cảm có thể đã củng cố niềm tin của nhóm, vì với họ đó là dấu hiệu thông điệp đang lan toả. Các tác giả thừa nhận một phần điều này ngay trong sách.

Đêm 20 rạng sáng 21/12/1954

Theo ghi chép trong sách, nhóm tụ họp tại nhà bà Martin chờ đến nửa đêm, khi được cho là người ngoài hành tinh sẽ tới đón. Họ đã tháo bỏ mọi vật bằng kim loại trên người vì tin rằng kim loại nguy hiểm khi lên đĩa bay. Nửa đêm qua đi. Không có ai đến.

Những giờ sau đó căng thẳng: có người đưa ra cách giải thích đồng hồ chạy sai, có người im lặng. Gần năm giờ sáng, bà Martin nhận một "thông điệp" mới: nhờ ánh sáng mà nhóm nhỏ toả ra suốt đêm, Thượng đế đã tha cho thế giới. Thảm hoạ được hoãn chính nhờ lòng tin của họ.

Điều khiến các nhà nghiên cứu chú ý là chuyện xảy ra tiếp theo. Trước đó nhóm khá kín, né báo chí. Sau đêm đó, họ gọi điện cho các toà soạn, mời phóng viên, chủ động truyền bá thông điệp. Thất bại của lời tiên đoán không làm niềm tin tan rã ở những thành viên cam kết sâu nhất; nó đổi hướng thành nhu cầu thuyết phục người khác.

Mốc thời gian chính

Thời điểmSự kiện
1954 (mùa hè – thu)Dorothy Martin nói nhận được thông điệp về trận lụt; nhóm hình thành, một tờ báo địa phương đưa tin
Cuối 1954Festinger, Riecken, Schachter và trợ lý thâm nhập nhóm như người tin mới
Tháng 12/1954Nhóm chờ đĩa bay vài lần, lần nào cũng không có gì xảy ra
Đêm 20 rạng 21/12/1954Đêm chờ quyết định; rạng sáng có "thông điệp" nói thế giới đã được tha
Sau 21/12/1954Nhóm chủ động liên hệ báo chí, truyền bá rộng hơn; sau đó dần tan rã
1956Sách When Prophecy Fails xuất bản
1957Festinger xuất bản A Theory of Cognitive Dissonance, hệ thống hoá lý thuyết

Bất hoà nhận thức là gì

Bất hoà nhận thức (cognitive dissonance) là cảm giác khó chịu khi ta giữ hai ý nghĩ, hoặc một niềm tin và một hành động, mâu thuẫn nhau. Người ta có xu hướng giảm khó chịu đó bằng cách thay đổi một trong hai, hoặc thêm ý nghĩ mới để "bắc cầu".

Với nhóm chờ tận thế, hai ý nghĩ va nhau là "tôi đã hy sinh tất cả vì niềm tin này" và "niềm tin này vừa bị thực tế bác bỏ". Bỏ niềm tin đồng nghĩa với thừa nhận mọi hy sinh là vô ích, một cái giá tâm lý quá lớn. Cách dễ hơn là diễn giải lại sự kiện ("chúng ta đã cứu thế giới") và tìm thêm người đồng ý, vì càng nhiều người tin thì niềm tin càng có vẻ đúng.

Năm điều kiện theo Festinger

Các tác giả không nói rằng mọi người tin đều sẽ tin mạnh hơn khi lời tiên đoán thất bại. Họ nêu năm điều kiện cùng lúc:

  1. Niềm tin được giữ với sự xác tín sâu và có liên quan tới hành động.
  2. Người tin đã cam kết bằng những hành động khó rút lại (bỏ việc, cho tài sản).
  3. Niềm tin đủ cụ thể để sự kiện thực tế có thể bác bỏ nó.
  4. Bằng chứng bác bỏ xuất hiện và được chính người tin thừa nhận.
  5. Người tin có những người cùng niềm tin hỗ trợ xung quanh.

Điều kiện thứ năm quan trọng. Trong nhóm, những thành viên chờ một mình ở nhà, không có bạn đồng hành, phần lớn đã từ bỏ niềm tin. Người ở cùng nhau đêm đó thì giữ được lâu hơn.

Những phê bình và nghiên cứu sau này

Hơn nửa thế kỷ qua, When Prophecy Fails vừa được trích dẫn rộng rãi vừa bị soi xét kỹ:

  • Đạo đức: thâm nhập bí mật và ghi chép đời tư người khác không có sự đồng ý là điều các hội đồng đạo đức ngày nay khó chấp nhận.
  • Ảnh hưởng của người quan sát: nhóm vốn rất nhỏ, nên sự có mặt của nhiều nhà nghiên cứu "giả làm tín đồ" có thể đã làm thay đổi diễn biến.
  • Khó lặp lại: các nhà xã hội học nghiên cứu những nhóm chờ tận thế khác, như tổng hợp của Lorne Dawson về đề tài này, thấy phản ứng sau thất bại rất đa dạng. Có nhóm truyền bá mạnh hơn, có nhóm im lặng, có nhóm tan rã, có nhóm lặng lẽ đổi giáo lý. Truyền bá mạnh hơn không phải quy luật chung.
  • Tư liệu mới: các nhà nghiên cứu sau này tiếp cận được hồ sơ lưu trữ của Festinger, và một số phân tích cho rằng diễn biến thật phức tạp hơn bản kể trong sách, chẳng hạn mức độ truyền bá của nhóm trước ngày 21/12.

Dù vậy, lý thuyết bất hoà nhận thức thì đứng vững hơn câu chuyện gốc. Nó đã được kiểm tra trong hàng nghìn thí nghiệm có kiểm soát, nổi tiếng nhất là thí nghiệm năm 1959 của Festinger và James Carlsmith, khi người được trả ít tiền để nói dối rằng một việc nhàm chán là thú vị lại về sau tự thấy việc đó thú vị hơn người được trả nhiều tiền.

Những trường hợp lịch sử được đem ra so sánh

Ngay trong sách, các tác giả nhắc lại phong trào của William Miller ở Mỹ thế kỷ 19. Miller tính toán từ văn bản tôn giáo rằng thế giới sẽ thay đổi căn bản vào khoảng năm 1843–1844. Mốc cuối cùng được những người theo ông chấp nhận là ngày 22/10/1844. Khi ngày đó qua đi, sự kiện được gọi là "Đại Thất Vọng" (Great Disappointment). Phản ứng của những người theo rất khác nhau: nhiều người rời đi, một số nhóm diễn giải lại ý nghĩa của mốc thời gian và về sau phát triển thành những cộng đồng tôn giáo có tổ chức tồn tại tới nay.

Câu chuyện này cho thấy cùng một sự kiện "lời tiên đoán thất bại" có thể dẫn tới nhiều kết cục. Đó là lý do các nhà nghiên cứu hiện đại thận trọng khi rút một quy luật chung từ một nhóm nhỏ năm 1954.

Góc nhìn hôm nay: bài học cho chính mình

Đọc When Prophecy Fails dễ cười nhóm chờ đĩa bay. Nhưng cơ chế bất hoà nhận thức ở trong mọi người: ta bênh một món đồ đắt tiền vừa mua dù nó dở, giữ một quyết định sai vì đã bỏ quá nhiều công sức. Vài cách áp dụng thực tế:

  • Cẩn trọng với cam kết không rút lại được. Khi một nhóm, một người dẫn dắt yêu cầu mình bán nhà, bỏ việc, cắt đứt gia đình vì một dự đoán về tương lai, đó là dấu hiệu cảnh báo rõ nhất.
  • Để ý khi mình bắt đầu "bắc cầu". Khi thực tế không như kỳ vọng mà mình vội tìm lý do để niềm tin vẫn đúng, hãy dừng lại hỏi: nếu người khác nói lý do này, mình có tin không.
  • Đừng chế giễu người đang tin. Theo chính lý thuyết này, công kích thẳng làm người ta bám niềm tin chặt hơn. Giữ quan hệ, hỏi han nhẹ nhàng, để cửa ngỏ cho họ quay lại.
  • Nếu người thân bị cuốn vào nhóm cực đoan đến mức bỏ ăn ngủ, bỏ việc, bị tách khỏi gia đình, hãy tìm sự hỗ trợ của chuyên gia tâm lý.

Sách nên đọc: bản gốc When Prophecy Fails (1956) đọc khá cuốn, như một phóng sự; A Theory of Cognitive Dissonance (1957) cho người muốn đi sâu lý thuyết; Mistakes Were Made (But Not by Me) (2007) của Carol Tavris và Elliot Aronson giải thích bất hoà nhận thức trong đời thường bằng giọng dễ đọc.

Câu hỏi thường gặp

When Prophecy Fails là sách gì?

Đó là nghiên cứu năm 1956 của Leon Festinger, Henry Riecken và Stanley Schachter về một nhóm nhỏ ở vùng Chicago tin rằng thế giới bị lụt huỷ diệt ngày 21/12/1954. Các tác giả thâm nhập nhóm để quan sát phản ứng khi lời tiên đoán không thành.

Bất hoà nhận thức là gì?

Là cảm giác khó chịu khi ta giữ hai ý nghĩ, hoặc niềm tin và hành động, mâu thuẫn nhau. Để giảm khó chịu, người ta thường đổi một trong hai hoặc thêm lý do mới cho chúng khớp nhau, thay vì thừa nhận mình sai.

Vì sao người tin tận thế lại tin mạnh hơn sau khi dự đoán sai?

Theo Festinger, khi đã hy sinh nhiều vì niềm tin và có người cùng tin xung quanh, thừa nhận sai quá đau đớn. Người ta diễn giải lại sự việc và đi thuyết phục người khác để củng cố niềm tin. Tuy vậy, nghiên cứu sau này cho thấy đây không phải phản ứng duy nhất.

Dorothy Martin là ai?

Bà là người phụ nữ ở vùng Chicago đứng đầu nhóm chờ tận thế năm 1954, trong sách được đặt bí danh Marian Keech. Bà nói nhận thông điệp từ người ngoài hành tinh qua cách viết tự động.

Nghiên cứu của Festinger có bị chỉ trích không?

Có. Phương pháp thâm nhập bí mật bị xem là vi phạm đạo đức nghiên cứu, và sự có mặt của nhà nghiên cứu có thể đã ảnh hưởng tới nhóm. Các nghiên cứu về những nhóm khác cũng cho thấy phản ứng sau thất bại đa dạng hơn kết luận ban đầu.

Mở app Tận Thế

Tận thế ập tới: dựng trại, cứu người, sống qua đêm

Mở app Tận Thế

Bài viết liên quan

Mở app Tận Thế

Tận thế ập tới: dựng trại, cứu người, sống qua đêm

Mở app Tận Thế Xem app khác